Vào thời kỳ đầu thế kỷ XX, tư tưởng dân chủ và quyền con người còn rất mới mẻ đối với các dân tộc thực dân địa, nhưng đã là một trong những “lực hấp dẫn” Nguyễn Ái Quốc tìm đến phương Tây. Nhân kiệt trí não của Nguyễn Ái Quốc không chỉ trình diễn.# Ở sự mẫn cảm đối với những vấn đề chính trị mới của thời đại, trong đó có cách mạng XHCN và cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa… mà Người còn sớm nhận thức được những giá trị chung của loài người, trong đó có quyền con người. Trong bài đáp phỏng vấn một nhà thơ Liên Xô - Ô-xip Man-đen-xtam, năm 1923, Nguyễn Ái Quốc kể lại: "Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, đồng đẳng, Bác ái... Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy...(Thành thử) tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài”[1]. Trong "Tuyên ngôn độc lập", năm 1945, chủ toạ Hồ Chí Minh đã trân trọng trích dẫn lại Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ - năm 1776; Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp - năm 1789, và suy ra một chân lý mới có ý nghĩa thời đại, đó là: "tuốt các dân tộc trên thế giới đều sinh ra Bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”[2]. Có thể xem đây là quyền thiên nhiên của các dân tộc, không phân biệt lớn- nhỏ, phát triển hay chậm phát triển. Với Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc, chủ quyền nhà nước, kiêm toàn bờ cõi vừa là tiền đề, vừa là điều kiện tiên quyết của chế độ dân chủ, quyền công dân và quyền con người. Có thể nói, tư tưởng giành độc lập dân tộc, chủ quyền nhà nước, tạo tiền đề cho quyền con người của các dân tộc thực dân địa là đóng góp lớn lao nhất cho tư tưởng nhân loại trong thế kỷ XX. Lịch sử đã ghi nhận, ngay sau khi cách mạng thắng lợi, dưới sự lãnh đạo của chủ toạ Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, quốc gia ta đã tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội; thành lập chính phủ; xây dựng và ban hành Hiến pháp, hình thành cơ sở chính trị, pháp lý của Nhà nước pháp quyền của dân chúng, do quần chúng, vì quần chúng; các quyền công dân và quyền con người của quần chúng. # Ta được trọng, bảo vệ. Hiếm có một cuộc cách mệnh nào, một đảng chính trị nào lại có thể song song làm được những công việc lớn lao, phức tạp - xây dựng chế độ dân chủ, hệ thống chính trị quốc gia chỉ trong vòng một năm như cuộc cách mạng của dân tộc ta. Có thể nói từ đây, nền móng của chế độ dân chủ, quốc gia pháp quyền, các quyền công dân và quyền con người của chế độ ta đã được tạo lập vững chắc và trở nên một mục tiêu nhất quán của cách mệnh ViệtNam trên 70 năm qua (1945-2013). Không phủ nhận rằng, do cảnh ngộ lịch sử và sai lầm về nhận thức lý luận, một số quyền công dân và quyền con người của dân chúng đã bị hạn chế. Chả hạn như sai lầm giáo điều trong việc học tập kinh nghiệm của nước ngoài, hạn chế vai trò của chính quyền quần chúng. #, Vai trò của pháp chế trong cải cách ruộng rẫy; hay bệnh chủ quan duy ý chí, như xóa bỏ các thành phần kinh tế tư nhân, xóa bỏ kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường trong thời kỳ xây dựng tầng lớp XHCN sau khi giang san được hoàn toàn giải phóng (1975-1986). Những sai trái khuyết điểm này đã được Đảng ta phát hiện trong Đại hội VI (1986), Đại hội được xem là sự kiện đề xướng công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế. Là chế độ trọng con người, trước khi trở nên thành viên của liên hiệp quốc (ngày 20-9-1977), Việt Nam đã tự nguyện nhập nhiều công ước về Luật Nhân đạo quốc tế (về nội dung cũng mang tính nhân quyền) như “Công ước Giơ-ne-vơ về bảo vệ thứ dân trong chiến tranh” (gia nhập năm 1957), “Công ước Giơ-ne-vơ về đối với tội nhân trong chiến tranh” (gia nhập năm 1957)… Trước khi đổi mới, vào năm 1982, Việt Nam đã nhập hai Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người, đó là “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị” (năm 1966) và “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa” (năm 1966). Các Cương lĩnh 1991 và 2011 của Đảng ta đều khẳng định: Chế độ ta là chế độ do quần chúng. # Làm chủ; quốc gia ta là quốc gia pháp quyền XHCN của quần chúng. #, Do quần chúng và vì quần chúng. Các quyền và tự do căn bản của mọi người được quốc gia quý trọng, bảo vệ. Đối với Đảng và Nhà nước ta, quyền làm chủ trực tiếp của người dân luôn được quan tâm. Chỉ thị của Đảng (Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18-2-1998 về xây dựng và thực hành quy chế dân chủ ở cơ sở), đã quy định quyền của mọi người dân ở cơ sở được thông báo về luật pháp, các chủ trương, chính sách của Nhà nước, nhất là những vấn đề hệ trọng trực tiếp đến đời sống và lợi. Hằng ngày của quần chúng. # Tại cơ sở… Quốc hội Việt Nam cũng đã ban hành Pháp lệnh bảo đảm quyền được biết, được bàn, được rà soát và quyết định những vấn đề kinh tế, từng lớp của người dân ở các cơ sở. Đây là cơ sở chính trị, pháp lý của phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân rà”. Trên lĩnh vực quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam là: “thực hiện tiến bộ và công bằng từng lớp trong từng bước và trong từng chính sách phát triển… tiếp hoàn thiện hệ thống bảo hiểm tầng lớp… giúp đỡ mọi thành viên xã hội, nhất là những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương…” . Để bảo đảm cầu tiêu pháp lý cho các hoạt động của cơ quan Nhà nước và công dân, nhiều bộ luật, luật sửa đổi và luật mới được ban hành dựa trên các nguyên tắc: trọng con người, quyền con người; Dân chủ XHCN; Nhà nước pháp quyền XHCN và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Song song, tả nghĩa vụ quốc gia, ViệtNam đã nội luật hóa các công ước quốc tế mà mình đã tham dự. Có thể dẫn ra những luật sau: Luật Bảo vệ sức khỏe người dân (1989), Luật Giáo dục (1998), Luật Đất đai (2003), Luật Bảo hiểm xã hội (2006), Luật Phòng, chống HIV/AIDS (2006), Luật Phòng, chống tham nhũng (2005), Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (2007), Luật đồng đẳng giới (2011)... Ở sờ soạng các nhà nước, chế độ dân chủ và bảo đảm quyền con người là một quá trình lịch sử. Đơn giản vì dân chủ và quyền con người là thành tựu sự phát triển tổng hợp của xã hội, trên cả thảy các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và từng lớp, đồng thời còn chịu sự tác động của các yếu tố lịch sử, văn hóa dân tộc. Ở nước ta cũng như vậy, trong mỗi thời kỳ lịch sử, nhận thức của Đảng, trình độ phát triển kinh tế và dân trí được nâng cao từng bước, do vậy dân chủ và quyền con người cũng từng bước được nâng cao. Bên cạnh đó, một thực tại chính trị ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới cho thấy: ý kiến về dân chủ và quyền con người luôn có sự khác biệt nào đó và những lực lượng chính trị cường quyền, cực đoan luôn lợi dụng điều này để can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia. Đây là một khó khăn, thách thức mà mọi nhà nước, trong đó có nước ta, phải vượt qua. Hiến chương của Liên hợp quốc và các công ước quốc tế về quyền con người luôn xem quyền dân tộc tự quyết, xem vai trò của các quốc gia trong việc bảo vệ quyền con người là yếu tố quan trọng, cơ bản nhất trong việc đảm bảo quyền con người. Đảng và quốc gia ta cũng luôn ý thức rằng, bảo đảm quyền con người phải dựa trên pháp luật và Nhà nước pháp quyền. Chính thành ra mà Đảng và Quốc hội ta đã quyết định sửa đổi Hiến pháp 1992. Một trong những nội dung quan trọng trong lần sửa đổi này là đưa nội dung về vai trò, ví trí của quyền con người vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Nếu trong Hiến pháp 1992, quyền con người chỉ được quy định trong một điều (Điều 50) và được đặt ở Chương V, thì trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này, quy định về quyền con người được đặt ở Chương II, hình thành chương: “Quyền con người, quyền và trách nhiệm cơ bản của công dân”. Chương này được đặt ngay sau Chương I “Chế độ chính trị”. Trong Chương II, các quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế văn hóa và xã hội, bao gồm cả những quyền mới như quyền về môi trường, quyền hiến tặng tạng… đã được ghi nhận đầy đủ. Điều này không chỉ bộc lộ rõ nhận thức của quốc gia ta về tầm quan yếu của việc coi trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, mà còn biểu đạt khả năng của Đảng và Nhà nước ta “cập nhật” những thành tựu sự phát triển của quyền con người của cộng đồng quốc tế. Song song với việc sửa đổi Hiến pháp, Quốc hội Việt Nam cũng đang sửa đổi nhiều luật, nhằm đảm bảo có hiệu quả hơn các quyền công dân và quyền con người. Không phủ nhận rằng, hiện thời xã hội ta còn nhiều vấn đề bất cập liên can đến bảo vệ quyền con người, chả hạn như sự phân hóa giàu nghèo; tình trạng quan liêu, tham nhũng chưa bị đẩy lùi,… nhưng không thể phủ nhận được rằng, ở nước ta chế độ dân chủ, quyền công dân và quyền con người là một thành quả của sự nghiệp cách mệnh do Đảng ta lãnh đạo. Trọng và bảo đảm quyền con người thuộc bản tính của chế độ ta, song song là mục tiêu xuyên suốt của cách mệnh ViệtNam. THÀNHNAM – PHƯƠNG ANH [1] - Hồ Chí Minh, Văn hóa nghệ thuật cũng là một chiến trường, Nxb Văn học, Hà Nội, 1981, tr. 477. [2] - Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1995, tr. 1. |