Tôi gặp Đại tá Nguyễn Quý, nguyên Trưởng ban DK1, Binh chủng Công binh nhân ông quay trở lại cơ quan thăm bạn hữu. Dù đã nghỉ hưu nhưng ông vẫn chan chứa phong cách lính. Tuồng như niềm vui cùng đồng nghiệp sau một năm nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh cho Công trình DK1 còn nguyên lành trong lòng người lính già, để rồi câu chuyện của hơn 20 năm về trước, ông và những cán bộ Công binh được giao nhiệm vụ thiết kế, xây dựng công trình DK1 bỗng chốc ùa về. Vạn sự khởi đầu nan Những ngày đầu năm 1989, đồng chí Nguyễn Quý đang xoay tròn bên bàn làm việc thì Thiếu tướng Vũ Trọng Hà, Tư lệnh Binh chủng Công binh gọi anh lên giao nhiệm vụ. Vừa vào phòng Tư lệnh nói ngay: Tôi vừa nhận nhiệm vụ trực tiếp từ cấp trên về. Tôi mời đồng chí lên nhận một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Bộ Chính trị đã quyết định xây dựng các công trình trên thềm lục địa phía Nam. Cụm công trình này mang tên “Trạm dịch vụ kinh tế-khoa học kỹ thuật”-gọi tắt là Công trình DK1. Quốc gia đã thành lập ban chỉ đạo, giao cho Bộ Quốc phòng chịu bổn phận thiết kế sản xuất 4 thượng tằng lắp đặt trên 4 chân đế để quân nhân sinh hoạt, công tác và đương đầu. Thủ trưởng Bộ tín nhiệm giao nhiệm vụ này cho công binh. Bữa nay, thay mặt Bộ tư lệnh, tôi giao trọng trách này cho đồng chí. Đồng chí được cử làm Tổng chỉ huy các lực lượng công binh thiết kế, sản xuất, lắp dựng ắt công trình. Chúng ta đã làm nhiều công trình biển. Với truyền thống “Mở đường thắng lợi”, tin chắc rằng binh chủng công binh sẽ hoàn tất tốt nhiệm vụ khó khăn gian khổ, phức tạp nhưng vô cùng vẻ vang này.
Chúng tôi nhanh chóng phối hợp với các bên B thiết kế thi công phần chân đế, Viện Kỹ thuật Công binh khẩn trương bắt tay vào thiết kế 4 thượng tầng, lập dự toán cùng với Nhà máy X49 lên phương án tổ chức sản xuất thi công - Đại tá Nguyễn Quý nói. Phát huy truyền thống chuyên cần, sáng tạo, trong cảnh ngộ vừa thiết kế, vừa thi công, vừa làm vừa chỉnh sửa, Nhà máy X49 đã tổ chức cần lao không kể ngày hay đêm, hoàn thành một khối lượng cấu kiện hàng trăm tấn sắt thép nặng nề với độ chuẩn xác cao để lắp dựng công trình đạt đề nghị kỹ thuật nghiêm nhặt. Vững cột mốc nơi đầu sóng Đại tá Nguyễn Bá Hiểu, Trưởng ban DK1, biết chúng tôi đang trò chuyện về Công trình DK1, nhớ lại: - Vào thời khắc đó, nhiệm vụ được giao khôn xiết nặng nề. Tuy nhiên, để tìm ra được các giải pháp công nghệ trong thiết kế, xây dựng công trình DK1 là sự góp sức của rất nhiều cơ quan ban ngành như: Liên doanh dầu khí Việt - Xô, Công ty thiết kế và xây dựng dầu khí (PVEC), trọng điểm kỹ thuật công trình đặc biệt - Bộ Quốc phòng… Đại tá Nguyễn Bá Hiểu cho biết: Vượt qua những khó khăn ban đầu, đội ngũ cán bộ công binh đã sát cánh cùng với các cán bộ kỹ sư Viện Nghiên cứu và Thiết kế Công trình biển, các cán bộ thi công của Liên doanh dầu khí Việt - Xô ứng dụng nhiều giải pháp khoa học công nghệ một cách sáng tạo, góp phần vào thành công của công trình.
Đại tá Nguyễn Bá Hiểu cho biết thêm: Trong quá trình xây dựng công trình DK1, công tác khảo sát nghiên cứu xác định số liệu đầu vào cho thiết kế có vị trí rất quan yếu, luôn được quan hoài hàng đầu, từng bước hoàn thiện cả về quy mô và phương tiện kỹ thuật, chừng độ chuẩn xác của các số liệu thu thập về địa hình, địa chất, khí tượng hải văn tại các vùng đảo ngầm san hô và bãi cạn Cà Mau ngày một tiệm cận với thực tế. Những công trình trước tiên khi thi công trên biển được chia thành 6 mô-đun, sau này việc tổ hợp lại thành 3 mô-đun chính (cọc, chân đế và thượng tằng) đã giảm đáng kể số ngày thi công trên biển. Kết hợp với việc thay đổi quy trình thiết kế, thi công trên bờ để thi công trên biển vào mùa sóng yên biển lặng nên thời kì thực sự thi công tại các vị trí đặt công trình từ trên 10 ngày xuống chỉ còn lại 5 đến 6 ngày, chủ yếu thời gian dành cho định vị và đóng cọc. Trong quá trình thiết kế, việc tính tình chọn lọc phương án kết cấu đóng vai trò rất quan trọng. Vào thời điểm đầu những năm 90, bản thân liên doanh dầu khí Việt - Xô chưa có chương trình tính riêng về công trình biển chạy trên máy tính để bàn. Lúc này, Viện Kỹ thuật Công binh đã tự tổ chức nghiên cứu xây dựng công cụ tính hạnh kết cấu công trình DK1 trên máy tính. Dựa trên tài liệu có được, đặc biệt là quy phạm tính tình công trình biểnlắp truyền hình an viêncủa Liên Xô, những kỹ sư tham gia thiết kế, thi công đã chọn lọc được phương trình lý thuyết và các hệ số tâm tính xác định trọng tải sóng và dòng chảy tác động lên công trình. PGS, TS Phạm Ngọc Nam, Bộ tư lệnh Công binh cho biết: Về hình thức, các công trình DK1 rưa rứa như các công trình bằng thép một mực mà nhiều nhà nước xây dựng trên biển dùng trong phá hoang dầu khí. Điều dị biệt lớn nhất chúng ta đã xây dựng thành công công trình trong điều kiện địa chất đặc biệt với điều kiện biển cực kỳ khắc nghiệt. Với quy mô nhỏ như các công trình DK1 mà vẫn đứng vững hơn 20 năm qua là một thành công về khoa học công nghệ của đội ngũ cán bộ kỹ thuật đã tham dự công trình vào thời điểm đầu những năm 90, trên thế giới cũng như trong khu vực chưa có quy phạm và công trình nào xây dựng trên nền đá san hô thành công được ban bố. Ngay từ tháng 6-1989, khi đi thăm, rà soát và chỉ đạo xây dựng cụm Công trình DK1, Đô đốc Giáp Văn Cương, Tư lệnh Hải quân đã nói: “Tôi mong các kỹ sư, các nhà khoa học… khẩn trương xây dựng các mốc chủ quyền trên thềm đất liền phía Nam, cắm cho được lá cờ đỏ sao vàng trên khu vực này, để khẳng định vùng thềm đất liền chủ quyền của Việt Nam”. Ngày nay, các công trình DK1 đã xây dựng, đang hoạt động đích thực như những chốt tiền tiêu, mắt thần trên biển, là chỗ dựa kiên cố cho hoạt động vỡ hoang và đánh bắt hải sản xa bờ, cung cấp nhiên liệu, nước ngọt, hậu cần nghề cá, cứu hộ, cứu nạn cho ngư dân vùng biển khu vực này. Sau hơn 20 năm đi vào hoạt động, các trạm dịch vụ-kinh tế-khoa học kỹ thuật trên thềm lục địa phía Nam luôn là niềm tự hào của người dân Việt Nam. Hôm nay, những giáo sư, tiến sĩ, kỹ sư tâm huyết với Công trình DK1 vẫn ngày đêm lặng lẽ, lặng thầm tìm ra hàng trăm sáng kiến, cải tiến kỹ thuật để xây dựng công trình sau hoàn thiện hơn công trình trước cả về độ bền vững, an toàn, mỹ quan, yêu cầu dùng, sẵn sàng đấu tranh… để mỗi công trình là một cột mốc chủ quyền vững chắc trên vùng thềm lục địa của đất nước. Ghi chép của TRỊNH VĂN DŨNG |